Hỗ trợ trực tuyến
Liên kết Website







Trường Đại học Công nghệ (ĐHQG Hà Nội)

Nhà E3, 144 đường Xuân Thủy, quận Cầu Giấy, Hà Nội); 
ĐT: (04) 37547865

 

TƯ VẤN TUYỂN SINH NĂM 2012

KÝ HIỆU TRƯỜNG: QHI  - TỔNG CHỈ TIÊU: 560

TT

Các ngành đào tạo đại học:

Mã ngành

Khối thi

Chỉ tiêu

Nhóm ngành công nghệ thông tin và công nghệ điện tử - Viễn thông:

370

1

- Khoa học máy tính

D480101

A, A1

2

- Công nghệ Thông tin

D480201

A, A1

3

- Hệ thống thông tin

D480104

A, A1

4

- Công nghệ Điện tử - Viễn thông

D510302

A, A1

Nhóm ngành Công nghệ kỹ thuật cơ điện tử, Vật lý kỹ thuật và Cơ học kỹ thuật

190

5

- Vật lý kỹ thuật

D520401

A

6

- Cơ học kỹ thuật

D520101

A

7

- Công nghệ kỹ thuật cơ điện tử

D510203

A

- Điểm trúng tuyển theo nhóm ngành. Thí sinh trúng tuyển sau khi nhập học sẽ được phân vào các ngành cụ thể dựa theo nguyện vọng đăng ký, điểm thi tuyển sinh của thí sinh và chỉ tiêu của từng ngành.

- Trường có hợp tác chặt chẽ về đào tạo và nghiên cứu với các viện nghiên cứu và các tập đoàn công nghệ trong và ngoài nước. SV được tham gia NCKH, thực hành, thực tập trong các phòng thí nghiệm hiện đại; có nhiều cơ hội thực tập, thực tế và nhận các học bổng của doanh nghiệp.

- Chương trình đào tạo ngành Công nghệ thông tin đã được Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á (AUN) kiểm định.

- Ngành Khoa học máy tính và ngành Công nghệ Điện tử Viễn thông đào tạo theo chương trình đạt chuẩn quốc tế; được đầu tư toàn diện về cơ sở vật chất, chương trình, giáo trình và đội ngũ cán bộ giảng dạy.

- Ngành Vật lý Kỹ thuật đào tạo theo định hướng công nghệ cao về Vật liệu và linh kiện nano, Quang tử nano và Nano sinh học nhằm ứng dụng trong các lĩnh vực vi điện tử, y-sinh và môi trường.

- Ngành Cơ học Kỹ thuật và ngành Công nghệ kỹ thuật cơ điện tử đào tạo kỹ sư, cử nhân theo mô hình hợp tác giữa trường đại học, viện nghiên cứu và tập đoàn công nghiệp.

- SV các ngành Vật lý Kỹ thuật và Cơ học Kỹ thuật từ năm thứ 2 có thể đăng ký học bằng kép ngành Công nghệ Thông tin.

ĐHQGHN hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao, dưới sự quản lý trực tiếp của Thủ tướng chính phủ. Các trường đại học, các viện nghiên cứu thuộc ĐHQGHN là những cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học có tư cách pháp nhân và quyền tự chủ như các trường đại học, viện nghiên cứu khác được quy định trong Luật Giáo dục và Luật Khoa học - Công nghệ.
Tòa nhà trụ sở của Đại học Đông Dương tại 19 phố Lê Thánh Tông (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) 
được thành lập từ năm 1906 nay là Đại học Học Quốc gia Hà Nội
NHỮNG MỐC LỊCH SỬ QUAN TRỌNG CỦA ĐHQGHN
1906
Đại học Đông Dương, tiền thân của ĐHQGHN ngày nay được thành lập theo Quyết định số 1514a, ngày 16/5/1906 của Toàn quyền Đông Dương, đặt trụ sở tại số 19 phố Lê Thánh Tông, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội (thời Pháp thuộc là phố Boulevard Bobillot) 
.
Toàn cảnh của Đại học Đông Dương được chụp từ máy bay (hình ảnh hồi đầu thế kỷ XX)
1945
Trên cơ sở Đại học Đông Dương, Trường Đại học Quốc gia Việt Nam được thành lập, khai giảng khoá đầu tiên vào 15/11/1945 dưới sự chủ toạ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực đầu tiên được thành lập dưới chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trụ sở của Trường vẫn đặt tại 19 phố Lê Thánh Tông, Hà Nội.
1951
Nhà nước ta thành lập Trường Khoa học Cơ bản (tại Chiến khu Việt Bắc). Đây là một trong những trường tiền thân của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội sau này.
1956
Theo quyết định số 2183/TC ngày 4/6/1956 của Chính phủ, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội được thành lập.
Đại học Tổng hợp Hà Nội (ĐHTH) là trường đại học khoa học cơ bản (khoa học tự nhiên và khoa học xã hội & nhân văn) đầu tiên ở miền Bắc sau hoà bình lập lại. Trường ĐHTH Hà Nội trực tiếp kế thừa truyền thống và cơ sở vật chất, kỹ thuật của Đại học Đông Dương (1906), Trường Đại học Quốc gia Việt Nam (1945) và Trường Khoa học Cơ bản (1951).
Trong Trường Đại học Sư phạm Hà Nội có khoa Ngoại ngữ, sau này phát triển thành Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội.
 
Tòa nhà Đại học Học Quốc gia Hà Nội tại 19 phố Lê Thánh Tông (quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) ngày nay.
1967
Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội được thành lập trên cơ sở khoa Ngoại ngữ của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
1993
Với tầm nhìn chiến lược, Đảng và Nhà nước ta đã xác định giáo dục và khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu. Theo phương châm đó, ngày 14 tháng 1 năm 1993, Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Khóa VII) đã ra Nghị quyết, trong đó chỉ rõ nhiệm vụ “xây dựng một số trường đại học trọng điểm quốc gia” để làm đầu tầu và nòng cột cho giáo dục đại học nước nhà. Đại học Quốc gia Hà Nội được thành lập với vai trò và sứ mệnh đó.
ĐHQGHN được thành lập trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại 3 trường đại học lớn ở Hà Nội: Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I và Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội (theoNghị định 97/CP ngày 10/12/1993 của Chính phủ). ĐHQGHN chính thức hoạt động theo Quy chế Tổ chức và hoạt động do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 5/9/1994.
Giai đoạn 1993 – 2000, thực hiện Nghị định 97/CP, ĐHQGHN đã được sắp xếp, tổ chức lại và thành lập 5 trường đại học, 1 viện nghiên cứu: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Ngoại ngữ, Trường Đại học Sư phạm, Trường Đại học Đại cương, Viện Đào tạo Công nghệ Thông tin. Năm 1998, Chính phủ ban hành Nghị định về việc xóa bỏ Trường Đại học Đại cương; năm 2000 Trường Đại học Sư phạm tách khỏi cơ cấu tổ chức ĐHQGHN trở thành trường đại học trực thuộc Bộ GD&ĐT. Vào thời điểm này, ĐHQGHN mới có các ngành và lĩnh vực: toán và khoa học tự nhiên, công nghệ thông tin và điện tử viễn thông (trường ĐHKHTN), khoa học xã hội và nhân văn, kinh tế, luật (trường ĐHKHXHNV) và ngoại ngữ.
Trụ sở điều hành Đại học Quốc gia Hà Nội tại số 144 đường Xuân Thủy, quận Cầu Giấy, Hà Nội. 2000
Để tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho hai ĐHQG phát triển, Thường vụ Bộ Chính trị đã có Kết luận số 315-TB/TW ngày 29/8/2000, nêu rõ: Chủ trương xây dựng hai Đại học Quốc gia thành những trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, ngang tầm khu vực, dần đạt trình độ quốc tế là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước và xu hướng phát triển giáo dục đại học của khu vực và thế giới,... Đại học Quốc gia chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của các bộ, ngành khác trong lĩnh vực liên quan phù hợp theo quy định của Chính phủ và Luật giáo dục, đảm bảo quyền tự chủ cao trong các hoạt động về đào tạo, nghiên cứu khoa học công nghệ, tài chính, quan hệ quốc tế và tổ chức, bộ máy của Đại học Quốc gia; tạo cho được Đại học Quốc gia trở thành một thực thể hữu cơ phát huy cao nhất hiệu quả của việc xây dựng và sử dụng đội ngũ giáo viên, phòng thí nghiệm, cơ sở vật chất...”.
2001
Thực hiện Kết luận của Thường vụ Bộ Chính trị, Chính phủ ban hành Nghị định số 07/2001/NĐ-CP ngày 1/2/2001 về ĐHQG; ngày 12/2/2001 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 14/2001/QĐ-TTg và Quyết định số 16/2001/QĐ-TTg về việc tổ chức lại và ban hành Quy chế về Tổ chức và hoạt động của ĐHQG. Đây là mốc lịch sử quan trọng đánh dấu bước phát triển mới của ĐHQGHN.
Theo QĐ số 14/2001/QĐ-TTg, ĐHQGHN có Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Trường Đại học Ngoại ngữ; Viện Công nghệ Thông tin; Các khoa, trung tâm nghiên cứu trực thuộc; Các đơn vị phục vụ; Văn phòng và các ban chức năng.2003
2004
Thành lập Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển trên cơ sở Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và Giao lưu văn hóa.
Thành lập Trường Đại học Công nghệ trên cơ sở nâng cấp và phát triển Khoa Công nghệ và Trung tâm Hợp tác phát triển Cơ học.
2007
Thành lập Trường Đại học Kinh tế trên cơ sở nâng cấp Khoa Kinh tế.
Thành lập Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học trên cơ sở nâng cấp Trung tâm Công nghệ sinh học.
2008
Thành lập Quỹ phát triển Khoa học Công nghệ của ĐHQGHN (Gọi tắt là Quỹ Khoa học công nghệ).
Thành lập Trung tâm Truyền thông và Quan hệ công chúng trên cơ sở tổ chức và sắp xếp lại Bản tin và Bộ phận website của ĐHQGHN.
2009
Thành lập Trường Đại học Giáo dục trên cơ sở Khoa Sư phạm.
Thành lập Trung tâm nghiên cứu Biển và đảo, Trung tâm Quốc tế nghiên cứu biến đổi toàn cầu, Trung tâm giáo dục Thể chất và Thể thao trên cơ sở sắp xếp và tổ chức lại các bộ môn giáo dục thể chất của các đơn vị đào tạo.
Đổi tên để phù hợp với nhiệm vụ mới của 2 đơn vị: Trung tâm Giáo dục Quốc phòng thành Trung tâm Giáo dục Quốc phòng và An ninh; Trung tâm Giáo dục sinh thái và môi trường Ba Vì thành Trung tâm Hỗ trợ đào tạo và Phát triển đô thị đại học.
2010
Đến tháng 5/2010 thành lập 3 đơn vị mới là: Trung tâm Nghiên cứu Đô thị, Ban Quản lý và phát triển dự án, Khoa Y Dược.
Ngày 7/6/2010 thành lập Văn phòng hợp tác Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Kyoto trực thuộc ĐHQGHN, tên gọi tiếng Anh: Vietnam National University, Hanoi - Kyoto University Collaboration Office (VNU-KUCO).
Ngày 10/6/2010, thành lập Trung tâm ứng dụng Công nghệ thông tin trên cơ sở  hợp nhất và tổ chức lại các đơn vị: Trung tâm Quản trị mạng VNUnet trực thuộc Viện Công nghệ Thông tin, Trung tâm nghiên cứu và phát triển Công nghệ Phần mềm trực thuộc Trường Đại học Công nghệ và Trung tâm Tích hợp dữ liệu trực thuộc Văn phòng ĐHQGHN.
Ngày 5/7/2010, nâng cấp Trung tâm Đảm bảo chất lượng đào tạo và nghiên cứu phát triển giáo dục  thành Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục.
Đến nay, về cơ bản ĐHQGHN đã trở thành một trung tâm đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu khoa học và chuyển giao tri thức đa ngành, đa lĩnh vực chất lượng cao gồm tổng số 38 đơn vị thành viên và trực thuộc: 6 trường đại học (có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao tương đương các trường đại học trực thuộc Bộ GD&ĐT), 5 viện nghiên cứu, 5 khoa trực thuộc, 22 trung tâm nghiên cứu, đào tạo và đơn vị phục vụ.
Mặc dù còn một số khó khăn, nhưng Nghị định 07/2001/NĐ-CP và Quyết định 16/2001/QĐ-TTg đã tạo điều kiện thuận lợi cho ĐHQG phát huy được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao trong sự quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các Bộ liên quan trong các hoạt động về tổ chức bộ máy, cán bộ, tài chính, hợp tác quốc tế, đào tạo, nghiên cứu khoa học; hình thành được mô hình đơn vị sự nghiệp giáo dục có thực thể hữu cơ, liên thông, liên kết, hợp tác toàn diện giữa các đơn vị thành viên và trực thuộc, khai thác hiệu quả mọi nguồn lực, lợi thế đa ngành, đa lĩnh vực, sự đa dạng và thế mạnh của từng đơn vị trong ĐHQGHN để nâng cao chất lượng mọi hoạt động, gia tăng các giá trị, tạo nên các sản phẩm độc đáo, có sức cạnh tranh cao; xây dựng được nhiều lĩnh vực khoa học đạt chuẩn 200 trường đại học hàng đầu châu Á: lĩnh vực khoa học tự nhiên xếp thứ 146, lĩnh vực công nghệ và kỹ thuật xếp thứ 147, lĩnh vực khoa học sự sống và y sinh xếp thứ 173, lĩnh vực khoa học xã hội và quản lý xếp thứ 157 (topuniversities.com), góp phần nâng cao vị thế, thương hiệu của từng đơn vị, của ĐHQGHN và của cả hệ thống giáo dục đại học Việt Nam; tích cực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước.
Đánh giá mô hình các đại học, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã khẳng định ĐHQGHN đã đi đúng hướng trong việc xây dựng và phát triển mô hình đại học đa ngành, đa lĩnh vực chất lượng cao theo Nghị định 07/2001/NĐ-CP của Chính phủ và Quy chế 16/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ (nguồn: Báo điện tử Chính phủ).


Chia sẻ: Chia sẻ link qua Facebook Bản in Gửi câu hỏi tư vấn
Tên của bạn
Địa chỉ Email  
Tiêu đề
Nội dung
Mã xác nhận