ĐH Tôn Đức Thắng phản hồi công văn của Tổng Liên đoàn Lao động

Trước nội dung công văn mà Tổng Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) gửi xin ý kiến Bộ GD-ĐT, trường ĐH Tôn Đức Thắng đã phản hồi và cho rằng Tổng LĐLĐ có sự nhầm lẫn so với chỉ đạo của Bộ GD-ĐT.

>>Tổng Liên đoàn Lao động VN xin ý kiến Bộ GD-ĐT về trường ĐH Tôn Đức Thắng

>>Hiệp hội đề nghị tạo mọi điều kiện để ĐH Tôn Đức Thắng thực hiện tự chủ

>>Nhờ tự chủ, ĐH Tôn Đức Thắng đã “lột xác” với tổng tài sản hơn 2.200 tỷ đồng

Trường ĐH Tôn Đức Thắng cho rằng, về nguyên tắc, các vấn đề do Tổng Liên đoàn (TLĐ) đặt ra phải được giải đáp theo đúng tinh thần của Nghị quyết 19-NQ/TW và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục đại học (Luật số 34) và Quyết định 105 của Ban chấp hành TW về công tác cán bộ.

ĐH Tôn Đức Thắng phản hồi công văn của Tổng Liên đoàn Lao động Theo phương thức xét tuyển theo kết quả quá trình học tập THPT, ĐH Tôn Đức Thắng chia ra làm 2 đợt.

Đợt 1: Xét tuyển dành cho học sinh các trường THPT đã ký kết hợp tác với ĐH Tôn Đức Thắng về hướng nghiệp, đào tạo và phát triển khoa học công nghệ

Chú thích từ viết tắt/công thức:

ĐTBCN: Điểm trung bình cả năm;

α: là hệ số Trường THPT. Các trường chuyên/năng khiếu, trường trọng điểm (theo danh mục TDTU công bố) có hệ số 1,037; trường khác có hệ số là 1,000.

ĐTB 2CN = (ĐTBCN lớp 11 + ĐTBCN lớp 12)/2

ĐTBn môn i = (ĐTBCN môn i lớp 11 + ĐTBCN môn i lớp 12)/2

Điều kiện xét tuyển học bạ THPT của ĐH Tôn Đức Thắng năm 2018

Đối tượng: Thí sinh là học sinh đang học lớp 12 tại các trường THPT đã ký kết hợp tác với trường về hướng nghiệp, đào tạo và phát triển khoa học công nghệ; hoặc tại các trường THPT của các tỉnh đã ký kết toàn diện với trường (theo danh sách các Trường THPT đã ký kết với ĐH Tôn Đức Thắng) đủ điều kiện xét tuyển theo quy định của trường.

Điều kiện xét tuyển: dựa vào kết quả học tập 3 học kỳ (HK1 lớp 11, HK2 lớp 11, HK1 lớp 12) đảm bảo các điều kiện theo nhóm ngành như sau:

  + Nhóm ngành 1: Thí sinh có ĐTB 3HK ≥ 8,00 và đảm bảo các điều kiện môn học theo ngành.

  + Nhóm ngành 2: Thí sinh có ĐTB 3HK ≥ 7,50 và đảm bảo các điều kiện môn học theo ngành.

  + Nhóm ngành 3: Thí sinh có thể xét theo điều kiện (a) hoặc (b)

(a): Thí sinh có ĐTB 3HK ≥ 7,00 và đảm bảo các điều kiện môn học theo ngành.

Hoặc (b): Thí sinh có ĐTB môn i theo tổ hợp xét tuyển ≥ 6,30 và ĐTB 3HK ≥ 6,00; đảm bảo các điều kiện môn học theo ngành.

  + Nhóm ngành 4 (Nhóm ngành năng khiếu): Thí sinh có ĐTB môn i theo tổ hợp xét tuyển ≥ 6,00 và ĐTB 3HK ≥ 6,00; Điểm môn Vẽ hình họa mỹ thuật (Vẽ HHMT), Năng khiếu thể dục thể thao (Năng khiếu TDTT) ≥ 6,50 (theo thang điểm 10 và chưa nhân hệ số 2). Khi xét tuyển, điểm môn Vẽ HHMT, Năng khiếu TDTT nhân hệ số 2.

Điều kiện xét tuyển học bạ THPT của ĐH Tôn Đức Thắng Điểm xét tuyển: làm tròn đến 2 chữ số thập phân và được tính theo công thức sau:

  + Nhóm ngành 1 và 2: Điểm xét tuyển = (ĐTB HK1 lớp 11 + ĐTB HK2 lớp 11 + ĐTB HK1 lớp 12) * α + Điểm ưu tiên (nếu có).

  + Nhóm ngành 3:

(a) Điểm xét tuyển = (ĐTB HK1 lớp 11 + ĐTB HK2 lớp 11 + ĐTB HK1 lớp 12) * α + Điểm ưu tiên (nếu có).

(b) Điểm xét tuyển = (ĐTB môn 1 + ĐTB môn 2 + ĐTB môn 3) *α + Điểm ưu tiên (nếu có)

  + Nhóm ngành 4: Điểm xét tuyển = [ĐTB Môn 1 + (ĐTB Môn 2 hoặc Điểm Vẽ TTM) + (Điểm Vẽ HHMT hoặc Năng khiếu TDTT) *2] * 3/4 * α + Điểm ưu tiên (nếu có)

Điều kiện xét tuyển học bạ THPT của ĐH Tôn Đức Thắng Đợt 2: Xét tuyển dành cho học sinh tất cả các trường THPT trên cả nước

- Đối tượng: Thí sinh là học sinh đang học lớp 12 tại các Trường THPT trên cả nước đủ điều kiện đăng ký xét tuyển theo quy định của Trường

- Điều kiện xét tuyển: theo kết quả học tập cả năm lớp 11, 12 đảm bảo các điều kiện theo nhóm ngành như sau:

  + Nhóm ngành 1: Thí sinh có kết quả học tập đạt học sinh giỏi năm lớp 11, lớp 12 và đảm bảo các điều kiện môn học theo ngành.

  + Nhóm ngành 2: Thí sinh có ĐTB 2CN ≥ 7,80 và đảm bảo các điều kiện môn học theo ngành.

  + Nhóm ngành 3: Thí sinh có thể xét theo điều kiện (a) hoặc (b)

(a) Thí sinh có ĐTB 2CN ≥ 7,50 và đảm bảo các điều kiện môn học theo ngành.

Hoặc (b) Thí sinh có ĐTBn môn i theo tổ hợp xét tuyển ≥ 6,50 và ĐTB 2CN ≥ 6,50 và đảm bảo các điều kiện môn học theo ngành.

  + Nhóm ngành 4 (Nhóm ngành năng khiếu): Thí sinh có ĐTBn môn i theo tổ hợp xét tuyển ≥ 6,30 và ĐTB 2CN ≥ 6,50. Điểm môn Vẽ HHMT, Năng khiếu TDTT ≥ 6,50 (theo thang điểm 10 và chưa nhân hệ số 2). Khi xét tuyển, điểm môn Vẽ HHMT, Năng khiếu TDTT nhân hệ số 2.

Điều kiện xét tuyển học bạ THPT của ĐH Tôn Đức Thắng Thí sinh đăng ký xét tuyển vào nhóm ngành 4, thí sinh phải tham gia thi bổ sung môn năng khiếu gồm có Vẽ trang trí màu (Vẽ TTM), Vẽ HHMT, Năng khiếu TDTT để đủ điều kiện xét tuyển.

TDTU tổ chức thi năng khiếu 02 đợt: đợt 1  Xem chi tiết thông báo thi môn năng khiếu trên website: http://tuyensinh.tdtu.edu.vn.

- Điểm xét tuyển: điểm xét tuyển của từng nhóm ngành được làm tròn đến 2 chữ số thập phân và tính theo công thức sau:

Điều kiện xét tuyển học bạ THPT của ĐH Tôn Đức Thắng  Nhóm ngành 1 và 2: Điểm xét tuyển = (ĐTBCN lớp 11 + ĐTBCN lớp 12) * 3/2 * α + Điểm ưu tiên (nếu có).

  + Nhóm ngành 3: điểm xét tuyển theo 2 nhóm đối tượng

(a) Điểm xét tuyển = (ĐTB CN lớp 11 + ĐTB CN lớp 12) * 3/2 * α + Điểm ưu tiên (nếu có).

(b) Điểm xét tuyển = (ĐTBn môn 1 + ĐTBn môn 2 + ĐTBn môn 3) * α + Điểm ưu tiên (nếu có)

  + Nhóm ngành 4: Điểm xét tuyển = [ĐTBn Môn 1 + (ĐTBn Môn 2 hoặc Điểm Vẽ TTM) + (Điểm Vẽ HHMT hoặc Năng khiếu TDTT) * 2] * 3/4 * α + Điểm ưu tiên (nếu có).

Trường ĐH Tôn Đức Thắng Tổng Liên đoàn chỉ đạo theo Luật giáo dục đại học năm 2012

Theo Trường ĐH Tôn Đức Thắng, những nội dung mà TLĐ chỉ đạo Hội đồng trường và Ban Giám hiệu Trường Đại học Tôn Đức Thắng đa số không phù hợp với qui định của pháp luật hiện hành; bởi Công văn 499/BGDĐT-GDĐH chỉ đạo các trường thực hiện những chuẩn bị cần thiết như sửa đổi qui chế, kiện toàn Hội đồng trường... theo tinh thần của Luật số 34 để bảo đảm thực hiện sau ngày 1/7/2019.

Như vậy, việc chuẩn bị trên phải căn cứ trên Luật số 34. Văn bản 655 của TLĐ lại chỉ đạo căn cứ theo Luật giáo dục đại học năm 2012 và Điều lệ đại học năm 2014, nghĩa là theo qui định hiện hành. Chỉ đạo này không sai nhưng chỉ có giá trị đến hết 30/6/2019. Trong khi Bộ GD-ĐT chỉ đạo chuẩn bị nội dung mới để thực hiện sau 1/7/2019. Như vậy, chỉ đạo của TLĐ không phù hợp với chỉ đạo của Bộ GD-ĐT.

Lãnh đạo ĐH Tôn Đức Thắng không là cán bộ công đoàn các cấp

Về việc TLĐ chỉ đạo nhân sự hội đồng trường và nhân sự Ban giám hiệu phải theo các quy định của TLĐ về phân cấp quản lý cán bộ, tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo quản lý công đoàn các cấp; trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, kỷ luật cán bộ công chức trong tổ chức công đoàn…(Công văn 655), trường ĐH Tôn Đức Thắng cho rằng đó là sự nhầm lẫn, cụ thể:

Thành viên Hội đồng trường, thành viên Ban giám hiệu của Trường ĐH Tôn Đức Thắng không phải là cán bộ lãnh đạo quản lý công đoàn các cấp theo Luật Công đoàn và Điều lệ công đoàn; nên việc buộc nhân sự của Nhà trường phải theo quy định về cán bộ công đoàn các cấp là không đúng pháp luật.

Theo Điều 5, Điều lệ công đoàn: “Cán bộ Công đoàn là người đảm nhiệm các chức danh từ Tổ phó Công đoàn trở lên thông qua bầu cử tại Đại hội hoặc Hội nghị Công đoàn; được cấp Công đoàn có thẩm quyền chỉ định, công nhận, bổ nhiệm vào các chức danh cán bộ Công đoàn hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Công đoàn”.

Với căn cứ pháp lý này, thành viên hội đồng trường và ban giám hiệu Trường ĐH Tôn Đức Thắng không là cán bộ công đoàn các cấp nên việc bầu hoặc bổ nhiệm không thể áp dụng các quy định của TLĐ về phân cấp quản lý cán bộ, tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo quản lý công đoàn các cấp”.

Về yêu cầu phải áp dụng quy định của TLĐ trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, kỷ luật cán bộ công chức trong tổ chức công đoàn cho việc bầu, bổ nhiệm thành viên hội đồng trường và ban giám hiệu cũng có sự nhầm lẫn về thứ tự ưu tiên áp dụng pháp luật.

Theo đó, không thể áp dụng quy định về bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, kỷ luật cán bộ công chức trong Tổ chức Công đoàn đối với thành viên hội đồng trường và Ban giám hiệu Trường ĐH Tôn Đức Thắng vì các đối tượng này không là công chức; mà là viên chức theo pháp luật viên chức.

Trường này cũng cho rằng, tất cả các quy định của TLĐ về bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động kỷ luật cán bộ công chức trong tổ chức công đoàn chỉ áp dụng cho cán bộ, công chức của tổ chức công đoàn mà không áp dụng cho viên chức.

Thông báo số 453/TB-VPCP ngày 10/12/2018 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về áp dụng chế độ công chức đối với Ban giám hiệu Trường ĐH Tôn Đức Thắng có nêu rõ (mục 2): Việc xác định công chức trong đơn vị sự nghiệp công lập phải dựa trên nguyên tắc là đơn vị sự nghiệp công lập không hưởng lương từ ngân sách nhà nước thì không còn công chức.

Bất kỳ nhân sự nào của Trường ĐH Tôn Đức Thắng đều không hưởng lương từ ngân sách ngay từ khi Nhà trường được thành lập (năm 1997 đến nay). Nên Nhà trường không có công chức. Qui định của TLĐ không áp dụng cho Nhà trường được.

Hội đồng trường là quyền lực cao nhất

Trường ĐH Tôn Đức Thắng cho rằng, theo chỉ đạo của Nghị quyết 19-NQ/TW, Hội đồng trường là cơ quan quyền lực cao nhất của trường đại học, bao gồm đại diện chủ sở hữu và các bên có lợi ích liên quan (đại diện cộng đồng xã hội, địa phương, người sử dụng lao động, doanh nghiệp, sinh viên, phụ huynh, giảng viên, viên chức, lãnh đạo Nhà trường...). Như vậy, chủ sở hữu chỉ là một thành phần của Hội đồng trường và việc chiếm tỷ lệ thấp là do Luật số 34 qui định.

Nghị quyết 19/NQ-TW cũng chỉ đạo tiến tới bỏ cơ chế chủ quản; đơn vị sự nghiệp công lập, trường đại học đã tự chủ hoàn toàn chi thường xuyên như Trường Đại học Tôn Đức Thắng sẽ hoạt động theo mô hình doanh nghiệp; thuê hiệu trưởng. Chủ sở hữu chỉ có một vai trò hạn chế trong Hội đồng trường.

Theo Nghị quyết 19-NQ/TW, Cơ quan quản lý có thẩm quyền của đơn vị sự nghiệp công lập nói chung, trường đại học công lập tự chủ nói riêng là chính quyền địa phương. Theo đó, tại Luật giáo dục đại học 2012; Điều lệ trường đại học 2014 và Luật giáo dục nghề nghiệp  đều có nói đến “cơ quan chủ quản”.

 Nhưng đến Luật số 34 (2018) thì tên gọi cơ quan chủ quản không còn nữa. Như vậy, không thể định nghĩa cơ quan chủ quản là cơ quan quản lý có thẩm quyền vì nếu vậy, thì cứ duy trì tên gọi cơ quan chủ quản.

Luật số 34 đã tách bạch quyền sở hữu và quyền quản lý (theo chỉ đạo của Nghị quyết TW 6). Cơ quan chủ quản chỉ còn quyền sở hữu; quyền quản lý thuộc về hội đồng trường và chính quyền địa phương. Điều này phù hợp với việc chuyển trường đại học tự chủ sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp.

Trong công văn TLĐ gửi xin ý kiến Bộ GD-ĐT về việc phong giáo sư của ông Lê Vinh Danh - hiệu trưởng Trường đại học Tôn Đức Thắng và tự phong giáo sư cho giảng viên của trường đại học này.

Tổng liên đoàn Lao động đề nghị Bộ GD-ĐT xem xét tính hợp pháp của việc ban hành các chức vụ chuyên môn giáo sư của Trường đại học Tôn Đức Thắng.  Đồng thời thẩm định, xác minh và cho ý kiến về việc ông Lê Vinh Danh được phong giáo sư tại Preston University có hợp pháp và được công nhận tại Việt Nam hay không cùng quy trình bổ nhiệm giáo sư của ông Danh tại Việt Nam.

Về vấn đề này, ĐH Tôn Đức Thắng cho biết, việc công nhận chức danh Giáo sư cho ông Lê Vinh Danh đã được Cục nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục của Bộ thực hiện đúng qui trình và thủ tục theo qui định hiện hành.

Việc Ban tổ chức Trung ương căn cứ công nhận này để bổ nhiệm ngạch giảng viên cao cấp cho ông Danh vào tháng 1/2013 là theo đề nghị của chính TLĐ.

Lãnh đạo Trường ĐH Tôn Đức Thắng cho biết, trường chỉ kiến nghị 2 điều: Tổng liên đoàn phải tuân thủ Luật giáo dục đại học sửa đổi và các Nghị quyết của TW Đảng về đổi mới hiệu quả hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập; tôn trọng Hội đồng trường là cơ quan quyền lực cao nhất của trường.

Gửi nhận xét