Đào tạo thi cấp chứng chỉ của bộ giáo dục 4366/BGDĐT-PC

Đào tạo thi cấp chứng chỉ của bộ giáo dục 4366/BGDĐT-PC,Về tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, kiểm tra và cấp chứng chỉ ngoại ngữ, tin học theo chương trình giáo dục thường xuyên(Ban hành theo Quyết định số 30/2008/QĐ-BGDĐT ngày 06 tháng 6 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Kính gửi: 

- Giám đốc đại học, học viện;
- Hiệu trưởng trường đại học, cao đẳng;
- Viện trưởng viện nghiên cứu khoa học được giao 
nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ;

- Hiệu trưởng trường trung cấp chuyên nghiệp.
Thời gian vừa qua, một số cơ sở giáo dục đề nghị hướng dẫn thực hiện một số nội dung quy định tại Quyết định số 33/2007/QĐ-BGDĐT ngày 20/6/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân (sau đây viết tắt là Quyết định số 33/2007/QĐ-BGDĐT) và các văn bản có liên quan đến việc cấp phát, quản lý văn bằng, chứng chỉ của giáo dục đại học và trung cấp chuyên nghiệp (sau đây viết tắt là văn bằng, chứng chỉ); Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn cụ thể thực hiện các văn bản trên như sau: Công văn 4366/BGDĐT-PC hướng dẫn về văn bằng, chứng chỉ của giáo dục đại học và trung cấp chuyên nghiệp do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành
1. Việc thống nhất quản lý và giao quyền cấp phát văn bằng, chứng chỉ
Điều 14 Luật giáo dục quy định: Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về văn bằng, chứng chỉ. Thực hiện quy định này, việc in, thủ tục cấp phát, thu hồi, hủy bỏ, chỉnh sửa văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân phải được thực hiện thống nhất theo mẫu, theo quy định của Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Thủ trưởng cơ sở giáo dục được giao nhiệm vụ đào tạo có thẩm quyền và có trách nhiệm cấp bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học; bằng thạc sĩ, bằng tiến sĩ; chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân phù hợp với nhiệm vụ được giao.
Theo quy định tại Điều 13 và Điều 14 Quyết định số 33/2007/QĐ-BGDĐT: Bộ Giáo dục và Đào tạo thống nhất in phôi văn bằng, chứng chỉ theo số lượng do các cơ quan quản lý giáo dục, cơ sở giáo dục có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ đăng ký. Cơ sở giáo dục đại học, trung cấp chuyên nghiệp chỉ được quyền in phôi văn bằng, chứng chỉ khi được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ủy quyền bằng văn bản. Mẫu văn bằng, chứng chỉ của cơ sở giáo dục được ủy quyền in phôi văn bằng, chứng chỉ phải được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định phê duyệt.Khai giảng bồi dưỡng CBQL trường Mầm non
2. Không cấp lại bản chính văn bằng, chứng chỉ
Tuyển sinh lớp bồi dưỡng nghiệp vụ Giáo dục Mầm Non
Trung tâm Đào tạo - Bồi dưỡng ngắn hạn chuyên ngành
Nha Khoa răng hàm mặt thẩm mỹ (Tuyển sinh kỹ thuật viên răng hàm mặt)
Thông báo tuyển sinh đào tạo nghề ngắn hạn CHUYÊN NGÀNH
Khoản 3 Điều 2 Quyết định số 33/2007/QĐ-BGDĐT quy định: “Bản chính văn bằng, chứng chỉ chỉ cấp một lần, không cấp lại”. Vì vậy, không được  cấp lại bản chính văn bằng, chứng chỉ trong bất cứ trường hợp nào.
3. Các trường hợp chỉnh sửa văn bằng, chứng chỉ
Khoản 1 Điều 21 Quyết định số 33/2007/QĐ-BGDĐT quy định: “1. Cơ quan có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ có trách nhiệm chỉnh sửa nội dung ghi trên văn bằng, chứng chỉ đã cấp cho người học trong các trường hợp sau đây: a) Sau khi được cấp văn bằng, chứng chỉ, người học được cơ quan có thẩm quyền cải chính hộ tịch theo quy định của pháp luật về cải chính hộ tịch; b) Các nội dung ghi trên văn bằng, chứng chỉ bị ghi sai do lỗi của cơ quan cấp văn bằng, chứng chỉ”. Ngoài hai trường hợp này, người có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ không được phép chỉnh sửa văn bằng, chứng chỉ đã cấp cho người học. 
Việc cải chính hộ tịch được ủy ban nhân dân cấp xã hoặc ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện theo quy định tại Điều 37 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch; việc chỉnh sửa văn bằng, chứng chỉ bị ghi sai do lỗi của cơ quan cấp văn bằng, chứng chỉ được thực hiện căn cứ vào giấy khai sinh của người học, hồ sơ lưu trữ liên quan đến quá trình học tập của người học.Nha Khoa răng hàm mặt thẩm mỹ (Tuyển sinh kỹ thuật viên răng hàm mặt)
Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định: “Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân. Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; giới tính, dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người đó”. Do đó, khi làm các thủ tục cấp văn bằng, chứng chỉ cho người học, người có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ có trách nhiệm xác định chính xác các nội dung liên quan đến nhân thân ghi trên văn bằng, chứng chỉ căn cứ vào giấy khai sinh của người học. Người học có trách nhiệm cung cấp chính xác các thông tin để ghi trên văn bằng, chứng chỉ. Trước khi cấp phát văn bằng, chứng chỉ, người có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ cần đưa thông tin sẽ ghi trên văn bằng, chứng chỉ cho người học để người học kiểm tra tính chính xác của thông tin.
Trong trường hợp nội dung về nhân thân của người học đã ghi trên văn bằng, chứng chỉ không khớp với bản chính giấy khai sinh do lỗi của người học như cung cấp bản sao chứng thực giấy khai sinh sai so với bản chính; mượn giấy khai sinh của người khác để đi học, có nhiều giấy khai sinh khác nhau,... thì người có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ không có trách nhiệm chỉnh sửa văn bằng, chứng chỉ. Các kỹ thuật làm răng giả Cử Nhân Kỹ Thuật Phục Hình Răng (CNKTPHR)
4. Hình thức chỉnh sửa nội dung ghi trên văn bằng, chứng chỉ
Theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Quyết định số 33/2007/QĐ-BGDĐT, người có thẩm quyền cấp văn bằng, chứng chỉ thực hiện chỉnh sửa văn bằng, chứng chỉ bằng cách ra quyết định chỉnh sửa nội dung văn bằng, chứng chỉ, đồng thời chỉnh sửa các nội dung phải chỉnh sửa đã ghi trong sổ gốc cấp văn bằng, chứng chỉ. Không được chữa trực tiếp trên văn bằng, chứng chỉ; không được thu hồi lại bản chính văn bằng, chứng chỉ đã cấp cho người học.
5. Ghi nơi sinh trên văn bằng, chứng chỉ; ghi nơi cấp văn bằng, chứng chỉ
Nơi sinh của người học ghi trên văn bằng, chứng chỉ phải ghi theo địa danh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ theo giấy khai sinh, kể cả trong trường hợp tại thời điểm cấp văn bằng, chứng chỉ đã có sự thay đổi địa danh hành chính nên không còn địa danh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khi khai sinh. 
Nơi cấp văn bằng, chứng chỉ (trước phần ngày tháng năm cấp văn bằng, chứng chỉ) được ghi theo địa danh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi cơ quan cấp văn bằng, chứng chỉ đặt trụ sở chính tại thời điểm cấp văn bằng, chứng chỉ.
6. Ghi hình thức đào tạo trên văn bằng Thông báo tuyển sinh đào tạo nghề ngắn hạn CHUYÊN NGÀNH

8. Ảnh trên văn bằng, chứng chỉ

9. Bản sao từ sổ gốc bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học; bằng thạc sĩ, tiến sĩ

11. Thẩm quyền ký văn bằng, chứng chỉ

12. Xử lý các trường hợp phôi văn bằng, chứng chỉ bị hư hỏng, viết sai, chất lượng không đảm bảo, bị mất

13. Sổ gốc và quản lý sổ gốc văn bằng, chứng chỉ

14. Công bố công khai toàn bộ thông tin về cấp văn bằng, chứng chỉ trên trang thông tin điện tử

Thi giảng viên chính có cần chứng chỉ ngoại ngữ, tin học?

Giảng viên (hạng III) đăng ký dự thi lên giảng viên chính (hạng II) không yêu cầu phải cung cấp chứng chỉ ngoại ngữ B1 và chứng chỉ tin học (nếu dự thi các môn ngoại ngữ và tin học).

Theo phản ánh của bà Vương Thị Ngọc Hân (TPHCM), Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành thông báo về việc thi nâng hạng từ giảng viên lên giảng viên chính nhưng không thấy có yêu cầu nộp chứng chỉ ngoại ngữ và tin học. Bà Hân hỏi, hồ sơ dự thi có cần nộp 2 chứng chỉ đó không?

Về vấn đề này, Bộ Giáo dục và Đào tạo trả lời như sau:

Tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giảng viên chính (hạng II) được quy định cụ thể tại Điều 5 Thông tư liên tịch số 36/2014/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 28/11/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Nội vụ quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập.

Điều kiện thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp được quy định cụ thể tại Điều 3 Thông tư số 18/2017/TT-BGDĐT ngày 21/7/2017 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định điều kiện, nội dung, hình thức thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập. Đồng thời, quy định về miễn thi ngoại ngữ và tin học tại Điều 4, Điều 5 của Thông tư số 18/2017/TT-BGDĐT.

Vì vậy, nếu giảng viên có đủ các điều kiện theo quy định về miễn thi ngoại ngữ và tin học thì sẽ được miễn thi đối với các môn thi nói trên. Trường hợp không được miễn thi, giảng viên sẽ dự thi đầy đủ các môn thi theo quy định.

Giảng viên (hạng III) đăng ký dự thi lên giảng viên chính (hạng II) không yêu cầu phải cung cấp chứng chỉ ngoại ngữ B1 và chứng chỉ tin học (nếu dự thi các môn ngoại ngữ và tin học).

Ngoài ra, cơ quan, đơn vị cử viên chức dự thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp chịu trách nhiệm trước pháp luật về tiêu chuẩn, điều kiện của viên chức được cử tham dự thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp; lưu giữ và quản lý hồ sơ đăng ký của viên chức dự thi thăng hạng chức danh nghề nghiệp theo quy định của pháp luật.

Nguồn: Baochinhphu.vn

 

Gửi nhận xét