Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường Miền Trung


Để đáp ứng tình hình nhiệm vụ trong từng giai đoạn lịch sử, cuối năm 1969 từ lớp học ban đầu đóng tại huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây trở thành Trường Trung học Đo đạc - Bản đồ và chuyển địa điểm về xã Hà Dương, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa ( chính là địa điểm hiện tại: phường Ba Đình, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa ). Năm 1971 trường được giao thêm nhiệm vụ đào tạo trung học Quản lý ruộng đất, đổi tên thành Trường Trung học Đo đạc - Bản đồ và Quản lý ruộng đất, trực thuộc Bộ nông nghiệp. Năm 1982 đổi tên thành Trường Trung học Quản lý ruộng đất, trực thuộc Tổng cục Quản lý ruộng đất. Từ năm 1994 đến tháng 8 năm 2002, trường mang tên Trung học Địa chính II, Trung học Địa chính Trung ương II, trực thuộc Tổng cục Địa chính. Sau khi Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập (tháng 10/2002 ), trường vẫn mang tên gọi Trung học Địa chính Trung ương II trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường và từ tháng 01 năm 2005 đến tháng 7 năm 2008, trường mang tên Trung học Tài nguyên và Môi trường Trung ương. Ngày 28 tháng 7 năm 2008, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ký Quyết định số 4164/QĐ-BGDĐT về việc thành lập Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường miền Trung trên cơ sở Trường Trung học Tài nguyên và Môi trường Trung ương. Như vậy, cũng từ ngày 28 tháng 7 năm 2008, nhà trường thân yêu của chúng ta đã được nâng cấp thành trường cao đẳng: Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường miền Trung, trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường.
    Bốn mươi năm qua, dưới sự lãnh đạo trực tiếp, có hiệu quả của các Tổng cục và các Bộ chủ quản, sự quan tâm giúp đỡ tạo điều kiện nhiều mặt của đảng bộ, chính quyền và nhân dân các địa phương, các cấp, các ngành và các đơn vị bạn, nhà trường luôn bám sát nhiệm vụ chính trị của mình, khắc phục mọi khó khăn, bền bỉ phấn đấu xây dựng cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ, giáo viên và chương trình đào tạo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi giai đoạn phát triển. Quy mô, chất lượng và hiệu quả đào tạo từng bước được nâng lên, đáp ứng yêu cầu của ngành và của xã hội.
    Tóm lược lại, có thể thấy lịch sử xây dựng và phát triển của Nhà trường đã trải qua mấy giai đoạn ( thời kỳ ) chính sau đây:
    - Từ khi được thành lập đến năm 1982: giai đoạn này trường trực thuộc Bộ Nông trường - sau là Bộ Nông nghiệp; đào tạo 3 chuyên ngành là Trắc địa, Quản lý ruộng đất và Nông hóa - Thổ nhưỡng. Đây là giai đoạn khó khăn gian khổ nhất và thiếu thốn trăm bề. Chuyển về Thanh Hóa, phần lớn cán bộ, giáo viên và học sinh phải sơ tán ngay về các xã Hà Lan, Hà Vinh thuộc huyện Hà Trung, vừa đảm bảo quá trình đào tạo không bị gián đoạn, vừa tham gia chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Trường thành lập và cử nhiều đoàn tham gia phục vụ chiến đấu, bảo vệ huyết mạch giao thông trên tuyến Quốc lộ 1A, ga Bỉm Sơn, cầu Đò Lèn, cầu Hàm Rồng - những trọng điểm đánh phá của không quân Mỹ. Chính mảnh đất này phải hứng chịu nhiều bom đạn của kẻ thù. Thày giáo Nguyễn Thúc Thuyên đã hy sinh tại đây, nhiều học sinh tạm gác tay bút lên đường ra mặt trận. 
Sau khi Hiệp định Pari về việc lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết (tháng giêng năm 1973), từ những nơi sơ tán trở về san lấp hố bom, xây dựng lại trường, lớp; cán bộ, giáo viên và học sinh toàn trường phải đổ biết bao mồ hôi, công sức mới có được nơi làm việc, nơi ở, phòng học bằng mái lá, cột tre, vách đất, bàn luồng. Cũng bắt đầu từ năm học 1973 - 1974 nhà trường có điều kiện tập trung cao hơn cho nhiệm vụ đào tạo, đội ngũ giáo viên được tăng cường, quy mô tuyển sinh cao hơn những năm học trước, dần từng bước chuẩn hóa nội dung, chương trình đào tạo. Thực hiện phương châm giáo dục “ Học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với xã hội”, ngay từ giai đoạn này mục tiêu đào tạo đã được xác định rõ là đào tạo đội ngũ cán bộ trung học thực hành, biết nhiều việc, thông thạo một việc. Vì vậy, cùng  với học tập lý thuyết, nhà trường đã chú trọng rèn luyện tay nghề nâng cao kỹ năng cho học sinh, đưa nhiều đoàn học sinh thực tập giúp các địa phương như Thanh hóa, Hà Bắc, Bắc Thái...làm công tác đo đạc lập bản đồ giải thửa, phân hạng đất, góp phần tích cực cùng các địa phương trên điều tra cơ bản về đất đai lúc bấy giờ.
Miền Nam được giải phóng, cuối năm 1976 - khi nước nhà đã thống nhất, hàng trăm học sinh của trường mới tốt nghiệp được điều về Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp làm công tác phân vùng, quy hoạch sản xuất nông nghiệp cấp huyện tại các đoàn Phân vùng - Quy hoạch Duyên hải trung Bộ, Tây Nguyên, Đông nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Công tác này đã góp phần quan trọng cùng cả nước tạo ra bước phát triển vượt bậc trong nông nghiệp, thực hiện mục tiêu 20 triệu tấn lương thực vào năm 1980 mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (  năm 1976 ) đã xác định.
- Giai đoạn từ năm 1982 đến năm 1993: Đây là giai đoạn tên trường được giữ lâu nhất cùng với duy nhất cơ quan chủ quản là Tổng cục Quản lý ruộng đất. Nhà trường tiếp tục đào tạo 3 chuyên ngành là Trắc địa, Quản lý ruộng đất ( sau đổi thành Quản lý đất đai ) và Nông hóa thổ nhưỡng . 
Đội ngũ giáo viên được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, giáo viên được đào tạo đúng chuyên ngành từ khoa Trắc địa - Bản đồ của Đại học Mỏ - Địa chất, khoa Quản lý đất đai của Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Do phần lớn số giáo viên không được đào tạo từ trường sư phạm nên khả năng diễn đạt còn hạn chế, cần phải được bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm. Mặt khác, do sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, các tài liệu bằng tiếng nước ngoài phổ cập ngày càng nhiều nên từ đầu thập niên chín mươi, đội ngũ giáo viên nhà trường được bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm bậc 1, bậc 2, tin học và tiếng Anh trình độ A,B. Đến cuối năm 1993 có 80% số giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn. 
Bắt đầu từ năm 1987, nhất là sau khi có Luật Đất đai 1988 đến năm 1991, nhà trường thực hiện điều chỉnh lớn, thay đổi cơ bản nội dung chương trình đào tạo cho phù hợp với nhu cầu. Sau khi cử nhiều đoàn công tác tiến hành khảo sát thực tế ở một số tỉnh đại diện cho các vùng Đồng bằng bắc Bộ, Trung du và miền núi phía Bắc, khu Bốn cũ, Duyên hải trung Bộ và Tây Nguyên; xin ý kiến bằng văn bản của nhiều Ban Quản lý ruộng đất các tỉnh chủ yếu về các nội dung: năng lực, khả năng đáp ứng yêu cầu chuyên môn, khả năng tổ chức thực thi công việc của đội ngũ cán bộ do trường đào tạo đang làm việc trong ngành; mức độ phù hợp của nội dung chương trình đào tạo, cần phải điều chỉnh, thêm hoặc bớt những nội dung gì? Nhà trường đã xây dựng lại mục tiêu đào tạo cho tất cả các ngành học, theo hướng chung là đào tạo cái gì xã hội cần. Do đặc điểm của nghề nghiệp, cán bộ quản lý đất đai được coi như người giữ chìa khóa kho tài nguyên quý giá của đất nước, việc làm của họ “sai một ly, đi một dặm”. Mục tiêu về tư tưởng đạo đức, phẩm chất chính trị được coi trọng hơn, đồng thời với nâng cao chất lượng chuyên môn cho người học. Ngoài các môn học chung chương trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định, các môn học cơ sở và chuyên môn được cơ cấu lại thời gian, số tiết thực hành của mỗi môn học phải chiếm 30 đến 40%; thời gian thực tập tốt nghiệp ở mức tối đa theo quy định, công tác thực tập rèn nghề được chú ý hơn. Nhiều đoàn giáo viên và học sinh tiến hành đo đạc lập bản đồ địa chính, phân hạng đất nông nghiệp, điều tra cơ bản làm quy hoạch sử dụng đất cho nhiều tỉnh từ khu Bốn cũ như Thanh hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh đến các tỉnh miền núi phía Bắc như Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La; hình thành các kỹ năng nghề nghiệp cho học sinh. Trên cơ sở mục tiêu đào tạo được duyệt, nhà trường tập trung chỉ đạo xây dựng đề cương chi tiết, tổ chức biên soạn bài giảng, giáo trình. Tất cả các môn cơ sở, các môn chuyên môn của ngành Quản lý đất đai đã có giáo trình cho giáo viên và học sinh giảng dạy, học tập. 
Vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy, phương pháp học tập, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo của học sinh được xác định là một chương trình xuyên suốt các năm học, áp dụng nhiều phương pháp giảng dạy mới thay cho phương pháp dạy học truyền thống, phát huy tính tích cực, tính sáng tạo của người học.
Cùng với nâng cao chất lượng đào tạo, nhà trường đặc biệt quan tâm đến hiệu quả đào tạo, học sinh ra trường phải có việc làm phù hợp với ngành nghề được học. Để giải quyết vấn đề này, từ năm 1990 đã có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với các Ban Tổ chức chính quyền , các Sở Địa chính các tỉnh (ở nhiều địa phương đến cấp huyện ) thực hiện tuyển sinh theo địa chỉ, gắn giữa đầu vào với đầu ra, địa bàn công tác chủ yếu ở cấp xã; nhờ đó, tỷ lệ học sinh có việc làm ngay sau khi ra trường ngày một tăng, có khóa đạt đến 80%. Đây cũng chính là một động lực quan trọng tác động tích cực đến động cơ, thái độ học tập của học sinh.
Cũng bắt đầu từ năm 1990 nhà trường thực hiện đa dạng hóa các loại hình đào tạo, đào tạo đa ngành, đa hệ, đa bậc; các lớp tại chức trung học Quản lý đất đai, Nhân viên nghiệp vụ địa chính, Kỹ thuật viên đo đạc được mở tại nhiều tỉnh từ Duyên hải trung bộ, khu Bốn cũ, Đồng bằng bắc Bộ đến Trung du miền núi phía Bắc, góp phần đáp ứng nhanh chóng nhu cầu cán bộ cho cơ sở, nhất là cán bộ cho vùng cao, vùng sâu, vùng xa.
Trong giai đoạn này, cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc, đồ dùng giảng dạy được tăng cường mạnh mẽ. Năm 1986, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh hóa có Quyết định giao 4,5 hecta đất cho nhà trường; các khu chức năng được hình thành, xây dựng nhà 2 tầng khu giảng đường, khu hiệu bộ, văn phòng làm việc của các phòng, khoa; nhà ở của học sinh ( ký túc xá ) dần từng bước xây dựng theo tiêu chuẩn cấp IV thay cho nhà lợp nứa, lá trước đó. Thiết bị phòng phân tích, máy đo đạc đáp ứng nhu cầu thực hành, thực tập cả trong và ngoài trường, bắt đầu trang bị máy vi tính cho tin học văn phòng.
Từ khi được thành lập đến hết giai đoạn này, trường là cơ sở duy nhất trong cả nước đào tạo bậc trung học ngành Quản lý đất đai. Thực tế đã khẳng định, trường có bề dày kinh nghiệm, là cơ sở đào tạo cán bộ địa chính có uy tín, được các địa phương trong cả nước đánh giá cao.
- Giai đoạn từ năm 1994 đến nay: Sau khi Tổng cục Địa chính được thành lập, trường trực thuộc Tổng cục Địa chính, đổi tên thành Trường Trung học Địa chính II, từ tháng 6 năm 2001 là Trường Trung học Địa chính Trung ương II. Từ tháng 10 năm 2002, trường trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, giữ tên Trung học Địa chính Trung ương II đến tháng 12 năm 2004, từ tháng 01 năm 2005 đến tháng 7 năm 2008 là trường Trung học Tài nguyên và Môi trường Trung ương. Đây là giai đoạn có nhiều biến đổi nhất, thể hiện sự phát triển toàn diện từ tăng quy mô, ngành nghề đào tạo; xây dựng nội dung, chương trình, giáo trình; bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giáo viên đến việc tăng cường cơ sở vật chất và thực hiện các nhiệm vụ chính trị khác.
Sau khi có Luật Đất đai 1993 ( sửa đổi ), nhiệm vụ trọng tâm của ngành là “nắm chắc, quản chặt” nguồn tài nguyên đất đai, trước hết đối với đất nông nghiệp và đất  lâm nghiệp. Thực hiện chủ trương lớn của Đảng và chính sách của Nhà nước tiến hành giao đất nông nghiệp, giao đất lâm nghiệp theo Nghị  định 64/NĐ-CP và Nghị định 02/NĐ-CP cho hộ gia đình và cá nhân, tạo sự tin tưởng cho người dân yên tâm sử dụng ổn định, lâu dài, ngành địa chính phải nhanh chóng làm công tác điều tra cơ bản để xác định chính xác diện tích, chất lượng, sự phân bố của các loại đất trên, giao đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các đối tượng theo quy định. Nhiệm vụ đào tạo của nhà trường phải đáp ứng tình hình trên. Trên cơ sở kết luận của Hội nghị về công tác đào tạo với thành phần là một số Sở Địa chính và các trường trung học chuyên nghiệp có đào tạo ngành Quản lý đất đai do Tổng cục Địa chính chủ trì được tổ chức tại trường năm 1995, nhà trường xây dựng lại mục tiêu đào tạo; chương trình, nội dung thay đổi lớn, nhiều môn học hầu như phải viết lại toàn bộ.
    Xuất phát từ yêu cầu tăng quy mô đào tạo và nhu cầu nguồn nhân lực của ngành và xã hội ngày một đa dạng, năm 2002 trường mở thêm 03 ngành mới ( Biên chế bản đồ, Quản lý nhà đất, Lưu trữ thông tin tư liệu địa chính ); năm 2005 mở thêm 02 ngành mới nưã ( Quản lý môi trường, Kỹ thuật môi trường ). Như vậy, từ một, hai ngành ban đầu, đến nay trường có 07 ngành đào tạo bậc trung học chuyên nghiệp.
    Năm 2001 và năm 2003, Lụât Đất đai tiếp tục được bổ sung, sửa đổi; Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 thay thế Luật bảo vệ môi trường năm1994. Vì vậy, cùng với việc sửa đổi, bổ sung chương trình khung, chương trình chi tiết, viết lại giáo trình các môn học thuộc 5 ngành Quản lý đất đai, Trắc địa, Biên chế bản đồ, Quản lý nhà đất, Lưu trữ thông tin tư liệu địa chính, nhà trường xây dựng chương trình khung, chương trình chi tiết và viết giáo trình cho 2 ngành đào tạo mới là Quản lý môi trường, Kỹ thuật môi trường. Dù khối lượng công việc rất lớn, quy trình chặt chẽ và đòi hỏi chất lượng cao, nhưng đến tháng 12 năm 2006 đã hoàn thành kế hoạch. Năm 2007 chỉnh sửa, bổ sung các môn học theo học phần, học trình; toàn bộ đã được thẩm định tại hội nghị do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức và chủ trì tháng 12 năm 2007. Mặc dù phải thay đổi nhiều lần nhưng đến nay nhà trường đưa vào sử dụng 60 giáo trình của tất cả 7 ngành học, trong đó nhiều giáo trình được thống nhất sử dụng cho các trường có đào tạo bậc trung học Quản lý đất đai và Quản lý nhà đất. Từ 2005 đến 2007, nhà trường chủ trì biên soạn tài liệu giảng dạy “Bồi dưỡng cán bộ Địa chính-Xây dựng cơ sở vùng Tây Nguyên” theo đề nghị của Bộ Nội vụ, tài liệu “Bồi dưỡng cán bộ Địa chính-Xây dựng cấp xã” cho chương trình Semla do Bộ Tài nguyên và Môi trường giao. Các tài liệu trên được nghiệm thu, được đánh giá tốt và đã đưa vào sử dụng.
    Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên trong giai đoạn này đạt được sự biến đổi toàn diện thực sự về chất. Bốn cán bộ quản ý có trình độ cao cấp lý luận chính trị; 40 cán bộ, giáo viên có chứng chỉ Quản lý nhà nước ngạch chuyên viên chính và ngạch chuyên viên; 17 giáo viên có trình độ thạc sỹ và đang học cao học; 9 cán bộ và giáo viên dạy thực hành tốt nghiệp đại học. Đến nay, 100% số giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn, trong đó có 35% là thạc sỹ. Ngoài ra, hàng năm bình quân có khoảng 30% số giáo viên được bồi dưỡng ngắn hạn theo chuyên đề. có 2 giáo viên đạt giáo viên dạy giải toàn quốc, 10 giáo viên dạy giỏi cấp ngành, 4 giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh qua 4 hội thi tổ chức từ năm 2000 đến năm 2006.
    Cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy, học tập và sinh hoạt được đầu tư xây dựng, mua sắm lớn hơn cả 2 giai đoạn trước. Ký túc xá học sinh với 2 nhà cao tầng và nhiều nhà cấp IV nhưng cao, đẹp, có công trình phụ khép kín, đủ chỗ ở cho 800 học sinh. Phòng học ngoại ngữ 40 cabin, 01 phòng thực hành tin học, 02 phòng công nghệ chuyên ngành, 01 phòng thí nghiệm môi trường; tổng số có 150 máy vi tính, trong đó 28 máy nối mạng Internet; nhiều máy đo đạc thế hệ mới, máy in màu, máy quét ảnh; các phần mềm ứng dụng trong thống kê, đăng ký đất đai và đo đạc bản đồ.
    Địa bàn thực tập, rèn nghề cho học sinh được mở rộng đến nhiều tỉnh, thành, từ các tỉnh miền núi phía Bắc đến vùng Đông nam Bộ, vừa bồi dưỡng kiến thức thực tế cho giáo viên, tay nghề cho học sinh, vừa góp phần rất quan trọng giúp các địa phương thực hiện chính sách về đất đai như giao đất, giao rừng, dồn điền-đổi thửa, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. 
          Công tác đào tạo tại chức được mở rộng cả quy mô lẫn địa bàn, tơí Đông nam Bộ và
 Đồng bằng sông Cửu Long. Để tạo điều kiện cho cán bộ đương chức chủ yếu ở các tỉnh bắc trung Bộ và nam Đồng bằng bắc Bộ học tập nâng cao trình độ, từ năm 1995 đến nay trường liên kết với Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Đại học Mỏ-Địa chất mở 11 lớp đại học hệ vừa làm vừa học các ngành Quản lý đất đai, Kinh tế nông nghiệp, Kế toán doanh nghiệp và Trắc địa với gần 700 sinh viên, trong đó hơn 300 sinh viên đã tốt nghiệp.
    Bốn mươi năm đã qua kể từ ngày ấy, 39 khóa chính quy và nhiều lớp trung học tại chức, nhân viên nghiệp vụ địa chính với hơn 10.000 học sinh đã ra trường hiện đang công tác ở tất cả các đơn vị cấp huyện thuộc 64 tỉnh, thành trong cả nước. Ở nhiều địa phương, số cán bộ trong ngành tài nguyên và môi trường đã học tại trường chiếm trên 60%, ở nhiều huyện là 100%. Nhiều học sinh tiếp tục phấn đấu vươn lên và trưởng thành nhanh chóng, được giao những trọng trách trong ngành như Giám đốc, phó Giám đốc Sở, trưởng-phó phòng cấp Sở, cấp huyện, Bí thư, chủ tịch cấp xã.
    Cùng với nhiệm vụ đào tạo, nhà trường luôn quan tâm đúng mức đến thực hiện các nhiệm vụ khác của ngành và địa phương. Nhà trường xác định góp phần xây dựng Bỉm Sơn - khu kinh tế động lực phía bắc tỉnh Thanh giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng - an ninh, đẹp về nếp sống văn hóa là trách nhiệm cũng là bổn phận của mình. Vì vậy, mọi nhiệm vụ địa phương giao, các phong trào do địa phương ( của cả các tổ chức, đoàn thể ) phát động nhà trường đều hoàn thành xuất sắc, được địa phương đánh giá cao. Nổi bật là các phong trào xóa đói, giảm nghèo, hoạt động từ thiện, xây dựng đời sống văn hóa ở các khu dân cư và công tác Quốc phòng - an ninh. Từ năm 2000 đến nay, nhà trường luôn là đơn vị dẫn đầu về giáo dục quốc phòng trong khối các trường học của tỉnh Thanh Hóa.
    Đảng bộ nhà trường với 60 đảng viên sinh hoạt tại 5 chi bộ ( 4 chi bộ khối cơ quan và 1 chi bộ học sinh ). Từ đảng bộ, đảng ủy đến các chi bộ, chi ủy duy trì chế độ sinh hoạt hàng tháng, nội dung sinh hoạt thường xuyên đổi mới, đề cao vai trò của mỗi đảng viên; nơi nào có đảng viên, nơi đố có sự lãnh đạo của Đảng, đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng trong nhà trường. Quan tâm xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đảng bộ đặc biệt chú ý bồi dưỡng quần chúng ưu tú tạo nguồn kết nạp đảng viên mới, trung bình mỗi năm có 60 quần chúng được học lớp bồi dưỡng chương trình đối tượng Đảng, kết nạp 12 đến 15 đảng viên mới ( trong đó 80% là học sinh ); số đảng viên học sinh là nguồn bổ sung cán bộ tốt cho các địa phương công tác, nhiều người trở thành cán bộ Đảng, cán bộ chính quyền chủ chốt ở cơ sở. Đảng bộ nhà trường liên tục nhiều năm liền là “Đảng bộ trong sạch, vững mạnh”. Các tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ đều hoạt động có hiệu quả, luôn được các tổ chức cấp trên của mình đánh giá, xếp loại khá hoặc xuất sắc.
    Dù ở giai đoạn lịch sử nào thì nét chung nhất trong thực hiện nhiệm vụ đào tạo của nhà trường 40 năm qua đều là:
    - Thực hiện nghiêm túc đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các quy chế về đào tạo, không có sai phạm gì - dù là nhỏ nhất.
    - Chương trình, nội dung đào tạo luôn bám sát nhu cầu của ngành và của xã hội từ đó có điều chỉnh, bổ sung kịp thời, quản lý chặt chẽ quy trình và chất lượng đào tạo; quan tâm bôi dưỡng đội ngũ cán bộ, giáo viên; tăng cường cơ sở vật chất đủ đáp ứng cho nhiệm vụ được giao.
    - Quản lý, giáo dục và rèn luyện học một cách toàn diện, đào tạo nghề là đào tạo con người, kết quả đào tạo được xã hội chấp nhận.
    - Đảm bảo sự đoàn kết thống nhất nội bộ cao, với tinh thần tất cả vì học sinh thân yêu, nhà trường thực sự là môi trường sư phạm lành mạnh.
- Quyền lợi hợp pháp chính đáng của người lao động, chế độ chính sách đối với học sinh được đảm bảo đầy đủ, kịp thời; đời sống vật chất và tinh thần của toàn trường không ngừng được nâng lên. 
    Ghi nhận công lao đóng góp của nhà trường trong sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, sự nghiệp giáo dục và đào tạo, Đảng và Nhà nước đã tặng  thưởng cho các tập thể và cá nhân nhiều phần thưởng cao quý. Đảng bộ được Ban chấp hành đảng bộ tỉnh Thanh Hóa tặng bốn Bằng khen ( năm 2003 nă năm 2007 ). Nhà trường liên tục được công nhận là trường tiên tiến xuất sắc và được tặng nhiều bằng khen, Cờ thi đua của Tổng cục, Bộ chủ quản, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa - Thể thao -  Du lịch, UBND các tỉnh. Năm 2001 được Chính phủ tặng Bằng khen, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba ( năm 2003 ) và Huân chương Lao động hạng Nhì ( năm 2008 ). Công đoàn trường được Liên đoàn Lao động tỉnh Thanh hóa, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng nhiều Bằng khen và Cờ thi đua. Đoàn thanh niên được Trung ương đoàn tặng nhiều Bằng khen, Cờ thi đua “ cơ sở đoàn vững mạnh”. Đối với cá nhân, trên 100 Bằng khen của Tổng cục Địa chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng Liên đoàn Lao động Việt nam; 03 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, 03 Chiến sỹ thi đua cấp ngành.
    Đạt được thành tích đáng tự hào, ngoài sự nỗ lực phấn đấu liên tục không mệt mỏi của các thế hệ cán bộ, giáo viên và học sinh, nhà trường luôn nhận được sự quan tâm lãnh chỉ đạo sâu sát, tạo điều kiện nhiều mặt của cơ quan chủ quản qua các thời kỳ; của đảng bộ, chính quyền các cấp, các ngành, các đoàn thể, cơ quan, doanh nghiệp và nhân dân tỉnh Thanh Hóa- nhất là thị xã Bỉm Sơn; sự hợp tác, giúp đỡ của nhiều tỉnh, thành, các Sở và Phòng Tài nguyên và Môi trường, nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trong cả nước. Nhân dịp này, thay mặt cán bộ, giáo viên và học sinh toàn trường, cho phép tôi được tỏ lòng biết ơn chân thành đến các đông chí lãnh đạo Bộ Nông trường, Bộ Nông nghiệp, Tổng cục Quản lý ruộng đất, Tổng cục Địa chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường, các bộ Giáo dục và Đào tạo, Nội vụ, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Ba Thi đua - Khen thưởng Trung ương, các cơ quan, đơn vị, các đồng chí và các anh chị về sự giúp đỡ quý báu đó.
    Trước nhu cầu về nguồn nhân lực cho ngành tài nguyên và môi trường, đặc biệt là đối với các tỉnh miền Trung từ Thanh hóa đến Bình Thuận ngày càng lớn và đa dạng, tháng 5 năm 2007 Ban Cán sự Đảng và lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường đồng ý cho trường được xây dựng đề án thành lập trường cao đẳng. Sau một thời gian chuẩn bị tích cực, tháng tư năm 2008 đề án hoàn chỉnh. Ngày 28 tháng 7 năm 2008, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ký Quyết định số 4164/QĐ-BGDĐT thành lập Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường miền Trung trên cơ sở Trường Trung học Tài nguyên và Môi trường Trung ương. Vinh dự lớn lao nhưng cũng là trọng trách. Phía trước là con đường lớn thênh thang rộng mở, không có vực thẳm, núi cao, sông sâu, biển cả chắn lối nhưng đó là tầm cao mới đòi hỏi nhà trường phải vượt qua. Kỷ niệm 40 năm thành lập trường, đón nhận Huân chương Lao động hậng Nhì - phần thưởng cao quý Nhà nước trao tặng, công bố Quyết định thành lập Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường miền Trung hôm nay, cán bộ, giáo viên và học sinh nhà trường càng phấn khởi và tự hào, càng phải quyết tâm nỗ lực phấn đấu , hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
    Trường Cao đẳng Tài nguyên và Môi trường miền Trung mong muốn nhận được sự quan tâm giúp đỡ nhiều hơn nữa của Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng các Bộ, Ngành ở Trung ương, nhất là về đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, tuyển dụng cán bộ, giáo viên để nhà trường có đủ điều kiện hoàn thành tốt nhiệm vụ; đồng thời chúng tôi cũng mong nhận được sự ủng hộ tích cực của đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương, của tất cả bạn bè xa gần trong thời gian tới./.

THÔNG TIN TUYỂN SINH NĂM 2013

KÝ HIỆU TRƯỜNG: CMM  -TỔNG CHỈ TIÊU: 400 

Ngành đào tạo

Mã ngành

Khối thi

Chỉ tiêu

Các ngành đào tạo cao đẳng:

 

 

400

Quản lí đất đai

C850103

A,B,D1

 

Công nghệ kĩ thuật trắc địa

C515902

A,B

 

Công nghệ kĩ thuật môi trường

C510406

A,B

 

Kế toán

C340301

A,D1

 

Quản trị kinh doanh

C340101

A,D1

 

 

- Vùng tuyển sinh: Tuyển sinh trong cả nước.

- Phương thức TS: Trường không tổ chức thi, mà lấy kết quả thi đại học và cao đẳng năm 2013, để xét tuyển theo đề thi 3 chung của Bộ GD&ĐT.

- Có đủ KTX cho sinh viên
Lưu ý: Nhà trường sẽ căn cứ vào những thông tin trong bản đăng ký tuyển sinh trực tuyến của học sinh để xét tuyển và gửi giâý báo nhập học cho học sinh theo đường bưu điện nếu học sinh trúng tuyển. Khi nhập học yêu cầu học sinh nộp hồ sơ tuyển sinh theo mẫu quy định. Nếu những thông tin trong bản đăng ký trực tuyến đúng với hồ sơ gốc, học sinh sẽ được nhập học