Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

TRƯỜNG HẠ SĨ QUAN CẢNH SÁT NHÂN DÂN (1976-1985)
            Ngày 24/04/1976, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) ra quyết định số 13/QĐ-BNV thành lập Trường Hạ quan Cảnh sát nhân dân II tại miền Nam. Trường có nhiệm vụ đào tạo hạ sĩ quan và bổ túc sĩ quan Cảnh sát nhân dân theo chương trình do Bộ Nội vụ quy định và được coi tương đương như trường Trung học chuyên nghiệp của Nhà nước. Quy mô đào tạo của trường là 2.000 học sinh. Tổ chức bộ máy của trường có 12 phòng - khoa. Đồng chí Bùi Hoán và đồng chí Nguyễn Văn Tấn được Bộ chỉ định giữ chức vụ Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng Nhà trường.            

TRƯỜNG CAO ĐẲNG CẢNH SÁT NHÂN DÂN (1985-1989)
     Ngày 01/04/1985, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ra Nghị định số 99/HĐBT về việc thành lập trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II, địa điểm tại thành phố Hồ Chí Minh, nhằm tiếp tục nâng cao trình độ cho Công an nhân dân, nhất là lực lượng Cảnh sát nhân dân đủ sức đảm đương nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự, đấu tranh phòng chống tội phạm. Thực hiện nghị định 99/HĐBT của Hội đồng bộ trưởng, ngày 19/10/1985 Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ra quyết định số 124/BNV chuyển trường Trung học cảnh sát nhân dân II thành trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II, địa điểm đóng tại huyện Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Trường có nhiệm vụ đào tạo cán bộ thực hành có trình độ đại học và tiếp tục đào tạo một số chuyên ngành thuộc hệ Trung học Cảnh sát nhân dân cho Công an các tỉnh thành phía Nam. Qui mô đào tạo là 1.500 học viên. Về tổ chức bộ máy: Trường có 01 Hiệu trưởng, 02 phó Hiệu trưởng, 5 bộ môn, 06 khoa nghiệp vụ, 07 phòng. Trường nằm trong hệ thống các trường Đại học và Trung học chuyên nghiệp của Nhà nước, là đơn vị dự toán cấp II.

QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN THÀNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẢNH SÁT NHÂN DÂN PHỤC VỤ SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ - HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƯỚC (1989-2006)

   Thực hiện Nghị định số 57/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, ngày 27/7/1989 Bộ trưởng Bộ Nội vụ ra quyết định số 53/QĐ-BNV chuyển trường Cao đẳng Cảnh sát nhân dân II thành Cơ sở phía Nam của trường Đại học Cảnh sát nhân dân. Cơ cấu của Phân hiệu gồm có 12 Bộ môn và 5 phòng. 

   Đầu năm 2001 Bộ Công an đã có chủ trương kiện toàn lại hệ thống các trường trong lực lượng CAND, thành lập các Học viện ANND, CSND theo đó Phân hiệu Đại học CSND được chuyển thành Phân hiệu Học viện CSND. Ngày 2/10/2001 Bộ Công an đã ban hành Quyết định số 970/2001/QĐ-BCA (X13) quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Phân hiệu Học viện CSND. Quyết định chỉ rõ: “Phân hiệu Học viện CSND thuộc Học viện CSND là cơ sở đào tạo cán bộ Cảnh sát nhân dân có trình độ đại học; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, chỉ huy lực lượng cảnh sát nhân dân; và là cơ sở nghiên cứu khoa học của Học viện CSND; Quy mô đào tạo: 2.500 học viên; Địa điểm: Đặt tại phường Linh Tây, quận Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh. Phân hiệu Học viện do 1 Phó Giám đốc Học viện CSND làm Phân Hiệu trưởng phụ trách, có 3 Phó Phân hiệu trưởng giúp việc; Tổ chức bộ máy của Phân hiệu Học viện CSND gồm có 7 Bộ môn, 7 Khoa nghiệp vụ, 8 Phòng và 1 Trung tâm. Phân hiệu Học viện CSND là đơn vị dự toán kinh phí cấp II và có con dấu riêng.

  Nhằm triển khai Quyết định số 152 của Thủ tướng Chính phủ, sớm đưa hoạt động của Trường Đại học CSND vào kỷ cương nề nếp, ngày 5/11/2003 Bộ trưởng Bộ Công an đã ký Quyết định số 830/2003/QĐ-BCA (X13) quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Trường Đại học CSND. Theo đó cơ cấu bộ máy tổ chức của trường gồm Ban giám hiệu, 7 bộ môn, 8 khoa nghiệp vụ, 7 phòng và 2 Trung tâmNgày 5/12/2005, Đoàn cán bộ liên ngành : Đại diện Văn phòng Chính phủ; Đại diện Bộ Giáo dục và đào tạo;  Đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ, đã tổ chức thẩm định Đề án đăng ký đào tạo thạc sĩ của trường Đại học Cảnh sát nhân dân. Kết thúc đợt thẩm định, đoàn đã đề nghị trường hoàn thiện. Đề án đăng ký đào tạo thạc sĩ để Bộ giáo dục và đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ trình Chính phủ ký quyết định giao nhiệm vụ đào tạo thạc sĩ cho trường Đại học CSND.
     Để có điều kiện đảm nhận chỉ tiêu đào tạo trong những năm tới với lưu lượng 3.500 sinh viên, nhà trường đề xuất Bộ Công an cho liên hệ xin đất để xây dựng Trường Đại Học CSND tại địa điểm mới. Với sự nỗ lực tích cực và tinh thần trách nhiệm cao, các đồng chí cán bộ được Ban Giám hiệu giao nhiệm vụ đã làm việc có hiệu quả với cơ quan hữu quan. Ngày 24/2/2003 Ban quản lý khu Nam đã ký Văn bản số 71/CV-BQL chấp thuận địa điểm xây dựng Trường Đại học CSND với diện tích 18 ha ở khu đại học phía Đông (khu số 3) thuộc phường Tân Phong, quận 7, T/P Hồ Chí Minh. căn cứ Thông báo số 2622/H11(H16) của Tổng cục Hậu cần CAND về ý kiến của Thứ trưởng Bộ Công an Nguyễn Văn Tính, đồng chí Hiệu trưởng ký Quyết định số 734/QĐ-ĐHCS (HC) ngày 14/10/2003 thành lập Ban quản lý dự án xây dựng trường tại quận 7 TP Hồ Chí Minh.          
     Ngày 25/12/2006 Bộ trưởng bộ Công an đã có quyết định số 2008/2006/QĐ-BCA(X13) quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký thay thế quyết định số 830/2003/QĐ-BCA(X13) là một dấu mốc quan trọng trên bước đường xây dựng và trưởng thành của Trường Đại học CSND.

* Tên trường: TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẢNH SÁT NHÂN DÂN

* Ký hiệu: CSS

* Địa chỉ: Khu phố 1, đường Nguyễn Hữu Thọ, P.Tân Phong, Q7, TP Hồ Chí Minh.

* Website: www.pup.edu.vn

* Tổng chỉ tiêu ĐH chính quy : 330

Ngành đào tạo

Tổ hợp xét tuyển

Mã ngành ĐKXT

Chỉ tiêu

Nhóm ngành nghiệp vụ Cảnh sát

A01, C03, D01

53860100

330

- Trinh sát Cảnh sát

 

 

 

- Điều tra Hình sự

 

 

 

- Kỹ thuật Hình sự

 

 

 

- Quản lý nhà nước về an ninh trật tự

 

 

 

- Quản lý trật tự an toàn giao thông

 

 

 

- Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp

 

 

 

- Tham mưu chỉ huy Công an nhân dân

 

 

 

- A01 (Toán, Vật lý, Tiếng Anh),

- C03 (Ngữ văn, Toán, Lịch sử).

- D01 (Toán, Ngữ văn, Tiếng Anh),

Xem thêm:Những điều cần biết về tuyển sinh vào các trường khối công an 

Đổi mới phương pháp dạy học - Một biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo của trường Đại học Cảnh Sát Nhân Dân
Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đại học là một yêu cầu bức xúc của xã hội trong giai đoạn hiện nay ở nước ta. Việc Nhà nước quy định các trường đại học phải thực hiện sự kiểm định chất lượng thông qua biện pháp tự đánh giá và đánh giá ngoài để xác định vị trí và khả năng đào tạo của mình trong hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay càng khẳng định quyết tâm của Nhà nước ta trong việc không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
Từ lý do đó, lãnh đạo Bộ Công an và Trường Đại học Cảnh sát nhân dân (ĐHCSND) đã ban hành nhiều văn bản nhằm triển khai thực hiện những quy định của Nhà nước với mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo của các trường Công an nói chung và của Trường ĐHCSND nói riêng. Trong đó vấn đề đổi mới phương pháp dạy học (ĐMPPDH) của giảng viên nhà trường thực sự là một biện pháp có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở trường ĐHCSND.

  I. Đánh giá thực trạng hoạt động ĐMPPDH
   Trong nhiều năm qua, vấn đề ĐMPPDH đã được chúng ta quan tâm, nhiều giảng viên đã đầu tư cho bài giảng của mình để có chất lượng cao. Nhiều phương tiện khoa học, kỹ thuật đã được sử dụng trong dạy học, qua đó các hình ảnh, sơ đồ, biểu mẫu, phim giáo khoa đã được trình chiếu làm cho phương pháp giảng dạy sinh động, tạo sự hứng thú trong học tập của sinh viên. Những phương pháp này đã đổi mới các phương pháp giảng dạy truyền thống như diễn dịch, thông báo, giải thích trước đây thường áp dụng một cách đơn điệu. Trong những phương pháp trước đây, chủ yếu là vai trò hoạt động của người thầy, thầy hướng dẫn về lý luận và các hoạt động thực tiễn, còn sinh viên nghe, ghi chép lời thầy giảng. Hiện tượng thầy đọc cho sinh viên ghi, đọc ghi cả những nội dung trong giáo trình, tài liệu dạy học là phổ biến trước đây thì nay đã rất hạn chế. Tất cả các hình thức dạy học đó đều lấy người thầy làm trung tâm, người thầy chuyển tải nhận thức đã có ở thầy, từ trong sách vở đến người học. Còn sinh viên chỉ là người tiếp nhận nên thiếu cơ hội nêu ý tưởng riêng, cách làm riêng của mình. Chính vì vậy khi lên lớp thầy chủ yếu là độc thoại, chỉ muốn nói những gì đã chuẩn bị và muốn sinh viên phải nhớ, phải thuộc những gì đã giảng, dẫn đến sinh viên lười biếng trong suy nghĩ và hành động, không đề cao được khả năng tư duy, độc lập, sáng tạo của mình. Các phương tiện kỹ thuật phục vụ dạy học như máy vi tính, máy chiếu xiên, băng, đĩa… đã được nhà trường quan tâm trang bị nhưng chưa được các giảng viên quan tâm sử dụng, chủ yếu sử dụng khi giảng duyệt hoặc dạy giỏi thì nay việc sử dụng đã trở thành thói quen, thường xuyên hơn.
   Bên cạnh đó, việc sưu tầm, biên soạn tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, học tập của sinh viên chưa được quan tâm đúng mức. Nhiều môn học còn thiếu hoặc thậm chí không có tài liệu phục vụ việc nghiên cứu, học tập của sinh viên. Bởi vậy dẫn đến hậu quả sinh viên không cần nghiên cứu sâu, không cần đọc tài liệu, chỉ cần học những gì thầy giảng đã ghi chép được nên rất thụ động và có quá nhiều thì giờ nhàn rỗi làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập và khả năng tư duy. Việc nghiên cứu, tổ chức các hình thức học tập có tính chất đề cao tư duy, tính độc lập, tính tự quản của sinh viên và các hình thức học tập ngoại khóa trong sinh viên tuy đã có chủ trương nhưng việc tổ chức và tiến hành chưa rộng khắp nên cũng ảnh hưởng đến sự hứng khởi trong học tập. Việc quan tâm rèn luyện tay nghề, khả năng thực hành, khả năng diễn đạt cho sinh viên cũng chưa được quan tâm, phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng công tác khi ra trường.
   Tất cả thực trạng nêu trên, có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng trong đó trách nhiệm chủ yếu thuộc về giảng viên, giảng viên chậm đổi mới, chưa quan tâm suy nghĩ, tìm tòi để ĐMPPDH. Chúng ta đều biết, ĐMPPDH là kết quả lao động sáng tạo trong thực hiện công tác chuyên môn của giảng viên, cho nên dù nói thế nào đi nữa thì nguyên nhân của những tồn tại nêu trên vẫn thuộc về giảng viên, đó là:
    1- Ý thức trách nhiệm và kiến thức, năng lực sư phạm của một số giảng viên còn yếu, chưa quan tâm nghiên cứu, tìm tòi để có phương pháp giảng dạy tốt; chưa biết phối kết hợp giữa các phương pháp giảng dạy để phát huy ưu điểm của từng phương pháp trong quá trình giảng dạy.
    2- Trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức, năng lực thực tiễn của một vài giảng viên còn yếu, chưa nắm vững kiến thức chuyên môn nên không tự chủ trong giảng dạy, giảng dạy không thuyết phục, không có khả năng và không dám gợi mở, đi sâu vào vấn đề nóng bỏng mà xã hội và sinh viên quan tâm.
    3- Vấn đề gắn liền lý luận với thực tiễn, nâng cao khả năng thực hành của sinh viên chưa cao, giảng dạy còn nặng về lý thuyết… Chúng ta chủ yếu là giảng dạy cho sinh viên biết: Nó là cái gì? Nó như thế nào? Phải làm cái gì?… chứ chưa quan tâm tạo cho sinh viên khả năng tư duy phải làm thế nào trước những tình huống có vấn đề và khả năng tự mình suy nghĩ tìm kiếm phương pháp tối ưu trong những tình huống cụ thể.

  II. Phương hướng ĐMPPDH hiện nay ở Trường ĐHCSND
    1. Về ý thức của giảng viên
   Trước hết, đòi hỏi mỗi giảng viên phải có lòng say mê tìm tòi, tận tâm trong nghiên cứu khoa học và giảng dạy. Cảm nhận được vấn đề nghiên cứu khoa học và nâng cao chất lượng dạy học là nghĩa vụ và trách nhiệm của giảng viên, đây là một yếu tố chủ quan giữ vai trò quyết định đối với việc ĐMPPDH. Bởi vì, chỉ có thông qua nghiên cứu khoa học giảng viên mới có tri thức và nhận thức đúng đắn yêu cầu của công tác dạy học, những khó khăn và đòi hỏi của việc nâng cao chất lượng đào tạo.
   Mỗi giảng viên phải tự mình nghiên cứu và tích cực trong học tập nâng cao trình độ, nhất là trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình có liên quan đến lĩnh vực giảng dạy nhằm nâng cao khả năng tư duy lý luận và tư duy thực tiễn của mình. Chỉ khi ý thức trách nhiệm và vai trò của giảng viên được đề cao sẽ giúp cho giảng viên ý thức sáng tạo, chủ động, tự tin trong giảng dạy. Ngoài ra, việc tăng cường mối quan hệ với các đơn vị nghiệp vụ ở Công an các địa phương, các vụ cục nghiệp vụ và những đơn vị thực tiễn có liên quan là đòi hỏi cấp bách để thu thập kiến thức, tài liệu thực tế phục vụ dạy học.
   Chúng tôi cho rằng, ý thức giảng viên giữ vai trò quyết định trong ĐMPPDH nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Vì vậy, mỗi giảng viên luôn phải tự mình rèn luyện nhân cách, có ý chí vươn lên trong cuộc sống và công tác. Phải có tinh thần trách nhiệm, sáng tạo trong công tác chuyên môn và bản thân phải nghiêm túc, có kỷ cương trong sinh hoạt và công tác vì sự phát triển đi lên của nhà trường.
   2. Về nội dung ĐMPPDH
    Đổi mới PPDH không đòi hỏi chúng ta phải tìm ra một phương pháp nào hoàn toàn mới mẻ, đặc thù mà chính là việc chúng ta nghiên cứu các phương pháp sẵn có, trên nền tảng phương châm giáo dục lấy người học làm trung tâm để lựa chọn cách thức giảng dạy phù hợp nhất. Theo chúng tôi, cần làm tốt những vấn đề sau đây:
   - Giảng viên các khoa, bộ môn cần phối hợp các phương pháp giảng dạy khác nhau trong dạy học như diễn giảng, kết hợp với nêu vấn đề, sử dụng tình huống và các phương tiện khoa học kỹ thuật hỗ trợ. Không tuyệt đối hoá phương pháp nào để tránh giảng dạy đơn điệu một phương pháp, nhất là chỉ sử dụng phương pháp diễn dịch, giải thích hoặc lạm dụng phương tiện khoa học, kỹ thuật một cách thái quá dẫn đến sự nhàm chán. Việc sử dụng phương tiện khoa học, kỹ thuật và công nghệ thông tin là cần thiết trong ĐMPPDH, tuy nhiên cần phải hiểu rằng không phải cứ sử dụng phương tiện khoa học, kỹ thuật và công nghệ thông tin trong dạy học là ĐMPPDH. Cần khai thác triệt để các phương tiện khoa học kỹ thuật phục vụ giảng dạy như sử dụng máy tính để mô hình hóa giáo án, xây dựng biểu đồ, sơ đồ; minh họa bằng hình ảnh; làm videoclip các tình huống nghiệp vụ, tình huống có vấn đề, cũng như sưu tầm, biên tập phim minh họa cho bài giảng... điều cơ bản là làm tăng khả năng tư duy, sáng tạo của sinh viên mới là mục tiêu của ĐMPPDH.
   - Tăng cường giảng dạy theo những tình huống có vấn đề, buộc sinh viên phải động não tìm ra phương án để giải quyết các tình huống đó. Quan tâm hướng dẫn sinh viên nghiên cứu tự học và chú ý kiểm tra sự chuẩn bị của sinh viên. Giảng viên thực sự chỉ là người hướng dẫn để sinh viên tư duy, học tập.
   - Tăng cường hoạt động đối thoại, hỏi đáp giữa giảng viên và sinh viên trong giảng dạy nhằm khơi dậy tư duy nghiên cứu, tìm tòi và khả năng tự học của sinh viên. Hiện nay nhà trường đã tổ chức nối mạng nội bộ đến từng phòng học, phòng ở của sinh viên. Cho nên, mỗi giảng viên và các khoa, bộ môn cần khai thác triệt để mạng nội bộ để tăng cường trao đổi, đối thoại, giải đáp chuyên môn giữa thày và trò. Cần xây dựng các hộp thư của Tổ bộ môn, của từng giảng viên để thầy trò trao đổi thông tin, giải đáp thắc mắc và đối thoại với sinh viên về chuyên môn. Hằng ngày, trực ban đơn vị và các tổ của khoa, bộ môn phải thường xuyên mở hộp thư để báo cáo lãnh đạo có thẩm quyền nghiên cứu, giải đáp và đáp ứng yêu cầu của sinh viên. Bảo đảm mạng nội bộ thực sự là phương tiện, cầu nối giữa giảng viên và sinh viên.
   - Các khoa, bộ môn cần thường xuyên sinh hoạt chuyên môn, quan tâm hướng dẫn giảng viên mới. Nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng phương pháp giảng dạy có tính đặc thù của đơn vị mình để giúp cho giảng viên mới có điều kiện thuận lợi trong tiếp cận phương pháp giảng dạy môn học. Duy trì và phát huy mối quan hệ thường xuyên với Trung tâm thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa, với Phòng quản lý Nghiên cứu khoa học và khai thác triệt để mạng Internet trong việc khai thác thông tin đáp ứng yêu cầu nghiên cứu của giảng viên và sinh viên.
   - Nhà trường tiếp tục xây dựng và trang bị phòng học có đủ điều kiện và phương tiện cần thiết để phục vụ giảng dạy có chất lượng. Các phương tiện phục vụ dạy học thiết yếu tiếp tục được tăng cường đầu tư nhất là máy chiếu xiên lắp đặt cố định trên phòng học. Đồng thời để tạo điều kiện cho giảng viên trẻ, nhà trường cần tiếp tục quan tâm hỗ trợ cho vay tiền mua máy tính xách tay phục vụ nghiên cứu, giảng dạy. Chỉ có như vậy, chúng ta mới có thể giúp cho giảng viên có điều kiện ĐMPPDH, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Trường ĐHCSND đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội của đất nước trong giai đoạn hiện nay./.

                                                                                                                

                                                                                                                 Trịnh Văn Thanh

(Đại tá, PGS, Tiến sĩ, Phó Hiệu trưởng - Trường Đại học CSND)

Theo qui định tuyển sinh của các trường ĐH, học viện thuộc lực lượng công an nhân dân thì tất cả thí sinh đăng ký xét tuyển vào học viện, các trường ĐH của Bộ Công an đều phải qua sơ tuyển tại công an các tỉnh, thành phố nơi thí sinh đăng ký hộ khẩu thường trú. Quy định này chỉ áp dụng đối với hệ quân sự, đối với hệ dân sự thì thí sinh không phải tham gia sơ tuyển và nộp hồ sơ ĐKDT giống như các trường ĐH dân sự khác.
Trường Đại học Cảnh sát nhân dân(CSS) - Xem chi tiết tại đây Trường Đại học Cảnh sát nhân dân chỉ tuyển sinh ngành Điều tra trinh sát, khối A, A1, C, D1, điểm xét tuyển từ 22.5 đến 27.5 điểm Chỉ sơ tuyển sức khỏe và xác minh hồ sơ lý lịch, không yêu cầu sơ tuyển năng khiếu.Tiêu chuẩn để được dự tuyển vào các trường khối công an Thí sinh phải đáp ứng được tất cả các tiêu chuẩn sau mới đủ điều kiện dự thi vào các trường CAND.
 1. Yêu cầu về sức khỏe
Về mắt: thí sinh phải đạt yêu cầu: thị lực không kính một mắt 10/10, tổng thị lực 2 mắt có thể từ 19 - 20/10.
Thí sinh không có sẹo giác mạc hoặc sẹo đơn thuần, không có biến chứng của bệnh mắt hột, không lác mắt, thị trường không bị hẹp, không được cận, viễn thị, không có rối loạn sắc giác; đồng thời không có các bệnh về đáy mắt, hai mắt phải to đều nhau…
Về chỉ số tai - mũi - họng: yêu cầu phải có tai ngoài, tai giữa và tai trong bình thường; xương chũm bình thường, mũi bình thường.
Trong trường hợp thí sinh viêm mũi dị ứng, viêm mũi mãn tính đơn thuần mà không có rối loạn chức năng hô hấp đáng kể vẫn có thể tuyển.
Thí sinh phải có họng bình thường hoặc viêm họng mãn tính đơn thuần, thể trạng tốt thì vẫn được chấp nhận. Một yêu cầu quan trọng nữa là thanh quản bình thường, không nói lắp; các xoang mặt bình thường.
Về răng - hàm - mặt: theo quy định của Bộ Công an thì thí sinh phải đủ răng, không kể răng khôn, hoặc mất 1 đến 2 răng sức nhai còn trên 90% và đã làm răng giả xong không vi phạm tiêu chuẩn chung thì vẫn được chấp nhận.
Thí sinh không có răng sâu hoặc răng sâu men; không có răng viêm tuỷ, răng khôn bình thường hoặc có biến chứng đã điều trị tốt, không viêm lợi, không sứt môi, khe hở vòm miệng và không nói ngọng.
Những yêu cầu về thần kinh, về tuần hoàn, hệ hô hấp, tiêu hoá: thí sinh không có bệnh tâm thần phân liệt, không có các loạn thần về triệu chứng, không động kinh, không có hội chứng suy nhược thần kinh của bệnh thần kinh thực tổn. Thí sinh mắc bệnh ra mồ hôi tay, chân ở mức độ nhẹ cũng có thể đạt yêu cầu sơ tuyển.
Huyết áp: phải đạt tiêu chuẩn phải từ 110 - 125 mmHg, không viêm tắc động tĩnh mạch, không co giãn tĩnh mạch ở khoeo chân, cẳng chân, không có bệnh tim bẩm sinh, không có bệnh của cơ quan tạo máu.
Hệ hô hấp: màng phổi, phế quản phải bình thường; thực quản, dạ dày, tá tràng phải bình thường… Liên quan đến hệ vận động như xương khớp, quy định nêu rõ: không mắc các bệnh mãn tính về khớp, không bị khớp giả hoặc không có chênh lệch chiều dài các chi, không mất các ngón tay, ngón chân, không thừa thiếu ngón tay, ngón chân, không lệch vẹo ngón chân cái…
Các chỉ số khác: Không nghiện các chất ma tuý, màu và dạng tóc bình thường, không bị rối loạn sắc tố da và không có các vết xăm (trổ) trên da.
Về thể hình: Nam cao từ 1,64-1,80m, cân nặng từ 48kg đến không quá 75kg; nữ cao từ 1,58-1,72m, cân nặng từ 45kg đến không quá 57kg.
Khi khám tuyển, thí sinh phải nộp cho cơ quan Công an 2 ảnh chân dung cỡ 3x4 (ảnh mới chụp không quá 6 tháng) và giấy chứng nhận đủ sức khoẻ do cơ quan y tế có thẩm quyền cấp (bệnh viện cấp huyện trở lên).
Nguyên tắc khám tuyển
Khi khám tuyển, thí sinh phải nộp cho cơ quan Công an 2 ảnh chân dung cỡ 3x4 (ảnh mới chụp không quá 6 tháng) và giấy chứng nhận đủ sức khoẻ do cơ quan y tế có thẩm quyền cấp (bệnh viện cấp huyện trở lên).
Sau khi khám đạt các tiêu chuẩn về lâm sàng thì hội đồng khám tuyển quyết định lựa chọn các xét nghiệm cần thiết cho từng đối tượng và tổ chức làm xét nghiệm theo quy định này để có cơ sở kết luận sức khoẻ cho người dự tuyển.
Nếu thí sinh chưa có các xét nghiệm thì hội đồng khám tuyển quyết định chọn lựa các xét nghiệm cần thiết cho từng đối tượng và tổ chức làm bổ sung tại bệnh xá hoặc các cơ sở y tế quân, dân y của Nhà nước để có cơ sở kết luận.
 2. Yêu cầu về tuổi
Đối với cán bộ trong ngành tuổi không quá 28; học sinh THPT hoặc bổ túc THPT tuổi không quá 20; học sinh thuộc khu vực 1 tuổi không quá 22; chiến sĩ nghĩa vụ công an tuổi không quá 24 (tính đến ngày dự thi).
 3. Yêu cầu về học lực
Tốt nghiệp THPT, trong 3 năm học PTTH có học lực từ loại trung bình trở lên, xếp loại hạnh kiểm khá, tốt. Trong đó 3 môn thuộc khối dự thi đạt 6.00 điểm/1 môn trở lên.
Đối với học sinh nữ về học lực 3 năm PTTH đạt loại khá trở lên, điểm 3 môn thuộc khối dự thi đạt từ 7.00 điểm/1 môn trở lên. Có hạnh kiểm 3 năm THPT đạt từ loại khá, tốt. Riêng đối tượng là học sinh đang học lớp 12 chỉ tính hạnh kiểm và học lực học kỳ I của lớp 12.
 4. Lý lịch bản thân
Bản thân và gia đình chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nư­ớc, quy định của chính quyền địa phư­ơng. Có thân nhân trong gia đình (ông, bà nội, ngoại, cha, mẹ hoặc ngư­ời trực tiếp nuôi dưỡng...) đảm bảo tiêu chuẩn về chính trị theo quy định của Bộ Công an.
 5. Nguyên tắc xét tuyển vào trường cao đẳng và trung cấp CAND
Bộ Công an chỉ tuyển vào ĐH, CĐ và trung cấp CAND đối với những thí sinh đạt yêu cầu sơ tuyển và dự thi vào một trong các Học viện, ĐH CAND.
Thí sinh không trúng tuyển vào đại học CAND được xét tuyển vào một trường cao đẳng CAND; không trúng tuyển vào cao đẳng được xét tuyển vào một trường trung cấp hoặc hệ trung cấp CAND (nếu có đăng ký nguyện vọng) theo quy định phân luồng xét tuyển của Bộ Công an. 
Những thí sinh không trúng tuyển vào các trường công an thi theo đề chung của Bộ GD-ĐT được tham gia xét tuyển vào các trường ĐH, CĐ theo qui định chung.
 Thí sinh có nguyện vọng xét tuyển vào các trường công an cần liên hệ với bộ phận tuyển sinh của công an các quận, huyện nơi mình đăng ký hộ khẩu thường trú để đăng ký dự thi, khai và nộp hồ sơ trực tiếp cho công an quận, huyện, thị xã.
Hồ sơ đăng ký sơ tuyển mua tại nơi sơ tuyển, hồ sơ này theo mẫu riêng của ngành công an được cung cấp tại công an các quận, huyện.